Từ nhỏ, ta đã biết sau này mình sẽ trở thành tam phu nhân của Tạ gia.
Tạ Thận Chi tin Phật. Khi các cô nương khác còn thả diều, đu xích đu, ta đã ngày ngày ở trong Phật đường tụng kinh.
Tạ Thận Chi luyện võ, thích những nữ tử có tính cách cứng cỏi. Vì hắn, ta học cưỡi ngựa, ngã gãy chân cũng không rơi một giọt nước mắt.
Ta dốc hết sức, ép mình trở thành kiểu người hắn thích.
Thế nhưng hắn lại đem lòng yêu một cô nương hoàn toàn trái ngược với ta.
Hôn ước không thể hủy, ta quay đầu gả cho đại ca của hắn - người nổi tiếng với thủ đoạn tàn nhẫn, quyết đoán.
Sau khi thành thân, đại lang Tạ gia quả đúng như lời đồn, không gần nữ sắc.
Chỉ có một lần, Tạ Thận Chi say rượu, đứng chặn trước cửa viện của ta. Tạ Vọng Chi kéo ta ra sau lưng, liếc nhìn người đệ đệ này một cái, giọng lạnh nhạt:
“Bây giờ nàng là đại phu nhân của Tạ gia, nửa đêm ngươi tìm đại tẩu có chuyện gì?”
1
Tạ Thận Chi đã yêu một cô nương họ Thôi, bán hoành thánh ở cổng thành.
Nàng thậm chí còn không có tên. Vì là con thứ ba, mọi người đều gọi nàng là Thôi Tam Nương.
Trên nàng có hai anh trai, đều là hạng lêu lổng, nợ cờ bạc bên ngoài không ít, không biết trốn đi đâu. Vì vậy thường có người đến quầy của Thôi Tam Nương gây chuyện.
Nàng đang bị cảm lạnh, lại bị đám đòi nợ bám riết, suýt nữa chết cóng trong trận tuyết lớn.
Tạ Thận Chi đã trả hết nợ cho nhà họ Thôi.
Lại còn sắp xếp cho hai anh trai của nàng một công việc đàng hoàng.
Hắn kéo người mình thích ra khỏi vũng bùn, lại chỉ quên mất ta.
Chuyện này lan ra khắp nơi, ai ai cũng bàn tán về mối tình của tam lang Tạ gia. Đích nữ Tô gia như ta trở thành trò cười của kinh thành. Mẫu thân giận dữ, muốn phụ thân vào gặp Hoàng thượng để hủy hôn.
Phụ thân gọi ta đến thư phòng, nhưng chỉ lặng lẽ luyện chữ, không nói gì.
Ta hiểu ý người.
Liên hôn giữa Tô gia và Tạ gia là chuyện tốt, không đáng vì một nữ nhân mà trở mặt.
Hơn nữa, hôn sự này năm đó do Thái hậu chỉ định trong tiệc mừng thọ. Nếu làm ầm lên trước mặt Hoàng thượng thì không hay.
Phụ thân viết một chữ - “nhẫn”.
Ta nói với người, ta sẽ đi gặp tam lang Tạ gia một lần.
Phụ thân gật đầu, đặt bút xuống, quay người lấy một cuốn sách trên giá ra xem.
Khi bước ra khỏi thư phòng, trong lòng ta vẫn không cam tâm, không nhịn được quay lại hỏi:
“Chữ ‘nhẫn’ có lưỡi dao treo trên đầu. Nếu sau khi thành thân, Tạ Thận Chi đối xử với ta không tốt thì sao?”
Phụ thân chậm rãi ngẩng đầu lên, ánh mắt lạnh đến đáng sợ.
Người nói từng chữ:
“Con gái Tô gia, không ai dám bắt nạt. Con cứ yên tâm.”
2
Ban đầu, không ai nghĩ Tạ Thận Chi lại yêu một cô nương bán hàng rong.
Tam lang Tạ gia bận việc, thường đến giờ giới nghiêm mới về thành.
Hắn không thích làm phiền hạ nhân phải nấu ăn đêm, nên thường tiện thể ăn một bát hoành thánh ở cổng thành.
Không biết từ lúc nào, bát hoành thánh ấy trở thành thói quen.
Rồi một ngày, quầy hoành thánh biến mất.
Ban đầu Tạ Thận Chi cũng không để ý. Hắn đợi hơn một tháng, quầy vẫn không mở lại, mới sai người đi tìm.
Việc này không khó, người trong khu đó ai cũng biết, hỏi vài câu là ra.
Tam lang Tạ gia xưa nay cao cao tại thượng, lần đầu tiên chịu hạ mình, chăm chú nghe về cuộc đời của một cô gái.
Hắn đưa tay ra, kéo nàng một cái.
Nữ chủ quầy hoành thánh, ta nghĩ, chắc không thể cùng hắn bàn chuyện kinh Phật, cũng không thể cùng hắn cưỡi ngựa rong ruổi.
Nhưng khi Tạ Thận Chi trở về trong đêm gió tuyết, trong phòng sẽ có một ngọn đèn sáng, có một cô gái tóc búi thấp đứng bên bếp, múc cho hắn một bát đồ ăn nóng hổi.
Chỉ nghĩ thôi cũng thấy ấm áp.
Tạ Tam lang, Thôi Tam Nương.
Ngay cả tên gọi cũng hợp nhau đến thế.
Ta đi gặp Tạ Thận Chi.
Hắn có vẻ rất bận. Ta đợi hai canh giờ, chỉ nhận được một câu từ tiểu tư:
“Đại nhân nhà ta còn đang tiếp khách, Tô tiểu thư hôm khác hãy đến.”
Ta không phải người thích dây dưa. Thấy trời còn sớm, liền dặn phu xe đưa ta đến chỗ Thôi Tam Nương.
Quầy hoành thánh ở cổng thành đã không còn. Tạ Thận Chi giúp nàng mở một cửa hàng mới.
Cửa hàng không nằm ở nơi đông đúc nhất, mà ở đầu một con ngõ hơi vắng.
Với tài lực của Tạ gia, nuôi một cô gái như nuôi chim cảnh cũng chẳng khó. Nhưng chim cảnh đâu cần phải ra ngoài buôn bán.
Tạ Thận Chi để nàng tiếp tục làm điều mình muốn, lại chọn nơi yên tĩnh như vậy, rõ ràng là có để tâm.
Quán không lớn, nhưng rất sạch.
Khi ta đến đã qua giờ ăn, trong quán không có mấy người.
Thôi Tam Nương giờ không còn bán hoành thánh nữa, trước cửa treo biển canh mì.
Bát hoành thánh ở cổng thành, sau này có lẽ chỉ mình tam gia Tạ gia được ăn.
Ta ngồi trong xe ngựa, vén rèm nhìn từ xa cô gái đang cán bột.
Xa quá, ta không thấy rõ nét mặt nàng, chỉ thấy nàng buộc dải lụa đỏ, tay áo xắn lên đến khuỷu, làm việc rất nhanh nhẹn.
Khác hẳn với tưởng tượng của ta.
Ta từng nghe về cuộc đời của Thôi Tam Nương, cứ nghĩ nàng sẽ là kiểu dịu dàng.
Con ngõ vắng, xe ngựa Tô gia quá nổi bật. Thôi Tam Nương rõ ràng đã nhìn thấy ta. Nàng do dự một lúc, lau tay rồi bước tới.
“Xin hỏi, người trong xe có phải là Tô đại tiểu thư?”
“Có việc gì?”
Nàng đứng bên ngoài nói:
“Ta từng nghe Tạ công tử nhắc đến tiểu thư. Cửa hàng này là do Tạ công tử cho ta vay tiền mở. Khi kiếm được tiền, ta sẽ trả lại.”
Ta xoay chuỗi tràng hạt trên cổ tay, còn chưa kịp nói thì phía sau vang lên tiếng vó ngựa dồn dập.
Người “đang tiếp khách” - Tạ Thận Chi kéo mạnh dây cương, vẻ mặt lạnh đi, chắn Thôi Tam Nương ra sau lưng, nói gấp:
“Tô tiểu thư, có chuyện gì cứ nói với ta. Nàng làm khó một cô gái như vậy là có ý gì?”
Ta sững lại, mở miệng, một lúc lâu sau mới hỏi phu xe:
“Ta làm khó nàng ấy sao?”
Phu xe đáp:
“Không có. Tiểu thư đến đây, còn chưa nói một câu nào.”
Ta lại hỏi người đang xắn nửa tay áo kia:
“Ta làm khó ngươi sao?”
Nàng có vẻ giật mình, vội nắm lấy tay áo Tạ Thận Chi, nhỏ giọng:
“Công tử, người làm gì vậy? Người hiểu lầm Tô tiểu thư rồi.”
Sắc mặt Tạ Thận Chi dần tái đi, trong mắt hiện lên chút xấu hổ.
Ta biết hắn đang lo điều gì.
Thế lực Tô gia lớn, cho dù ta có đánh chết Thôi Tam Nương ngay giữa phố, cũng không ai dám truy cứu.
Nhưng ta, Tô Mộ Vân, cũng có lòng tự trọng và kiêu hãnh của mình.
Ta chỉ muốn đến xem thử, rốt cuộc mình thua một cô nương như thế nào.
“Xin lỗi, Tam Nương không giống nàng. Vừa rồi ta nóng nảy, đã thất lễ với Tô tiểu thư.”
Ta đã đứng ngoài phủ họ Tạ đợi hắn suốt hai canh giờ, còn Thôi Tam Nương gặp chuyện, hắn lại có thể chạy đến trong chớp mắt.
Mặt trời đã ngả về tây. Sau lưng Tạ Thận Chi, vầng đỏ rực đang chầm chậm lặn xuống.
Trong khoảnh khắc ấy, ta bỗng nghĩ đến mấy chục năm sau này.
Ta sẽ bị kẹt giữa Tạ Thận Chi và một người phụ nữ khác. Chỉ vì ta xuất thân cao quý, nên làm gì cũng sai.
Nói lớn một chút là kiêu căng.
Không nói gì lại thành lấy thế đè người.
Ngồi nhìn Thôi Tam Nương là coi thường nàng.
Đứng nhìn nàng lại thành đang dạy dỗ nàng.
Ta sẽ bị giam trong nội viện, ngày này qua ngày khác, mong một người phu quân không yêu mình quay đầu.
Bỗng nhiên, ta thấy tất cả thật vô nghĩa.
Ngay cả tám năm ta thích Tạ Thận Chi cũng trở nên vô nghĩa.
Ta từng quỳ trước Phật, dập đầu ba nghìn lần.
Cũng từng vì hắn mà thuần phục ngựa dữ.
Ta đã tưởng tượng không biết bao nhiêu lần về cuộc sống sau khi thành thân với hắn.
Chúng ta môn đăng hộ đối, có chung sở thích, lại có hôn ước do Thái hậu ban.
Không thể hợp hơn được nữa.
Nhưng cuối cùng vẫn không thắng nổi việc Tạ Thận Chi không yêu ta.
Có lẽ chính vào khoảnh khắc này, ta đã buông bỏ hắn.
Ta nghiến răng, ép nước mắt quay trở lại, vì gắng sức quá nên giọng cũng khàn đi.
“Tạ công tử, giữa Tạ gia và Tô gia có hôn ước, việc này ngươi biết chứ?”
“Đương nhiên biết, chỉ là chuyện này cần phải - ”
Ta bình tĩnh ngắt lời hắn:
“Nhị lang Tạ gia đã thành thân rồi. Con gái Tô gia không làm thiếp.”
“Vậy phiền ngươi chuyển lời cho lão phu nhân nhà ngươi.”
Ta khẽ mỉm cười, nhưng bàn tay giấu trong tay áo không ngừng run rẩy.
Ta cố giữ lưng thẳng, nói câu cuối cùng dành cho Tạ Thận Chi:
“Hôn ước không thể hủy. Bảo đại ca ngươi đến.”
3
Ta đã thích Tạ Thận Chi rất nhiều năm.
Lần đầu gặp hắn, ta chỉ mới sáu bảy tuổi.
Khi ấy ta theo mẫu thân đến chùa Kim Sơn dâng hương. Mẫu thân ở tiền viện nghe đại sư giảng kinh, ta ngồi không yên, lén chạy ra hậu viện chơi.
Ta tham lam hái hoa sen trong ao, không cẩn thận rơi xuống nước. Một tiểu sa di đã cứu ta lên.
Khi đó ta ướt sũng từ đầu đến chân, tất dính đầy bùn, còn mất một chiếc giày, sợ đến mức run rẩy.
Kỳ lạ là, hắn mặc áo tiểu sa di, nhưng lại buộc tóc, hóa ra là đệ tử tại gia. Y phục của hắn cũng ướt sũng, dính sát vào người, trông rất chật vật.
Hắn tháo chuỗi tràng hạt trên tay, đeo vào cổ tay ta, lại dùng khăn lau sạch bùn trên mặt ta, dịu giọng bảo ta đừng sợ.
Ma ma bên cạnh mẫu thân tìm thấy ta, hoảng hốt ôm lấy ta, nói lời cảm ơn rồi vội vã rời đi.
Sau đó mẫu thân dò hỏi, mới biết người cứu ta là Tam lang Tạ gia.
Khi hắn ra đời, trời từng xuất hiện dị tượng. Một đạo sĩ đi ngang qua nói rằng, năm hắn mười chín tuổi sẽ có một kiếp nạn.
Ban đầu Tạ gia không tin, nhưng mấy chuyện đạo sĩ nói sau đó đều ứng nghiệm.
Lão phu nhân Tạ gia hoảng sợ, đưa Tạ Thận Chi còn nhỏ đến chùa, nhờ cao tăng nuôi dạy. Lại mời cao nhân chỉ dạy, truyền cho hắn một thân võ nghệ, chỉ mong hắn vượt qua tai kiếp.
Vốn dĩ ta không tin những chuyện này.
Tuổi sáu bảy, làm sao có thể đọc hiểu kinh Phật.
Nhưng chuyện liên quan đến Tam lang Tạ gia.
Người ca ca dịu dàng đã cứu ta, sao có thể gặp nạn khi mới mười chín tuổi?
Khi các tiểu thư khác còn thả diều, bắt bướm, ta đã ngày ngày ở trong Phật đường.
Ta dập đầu ba nghìn lần trước Phật, chỉ mong Tam lang Tạ gia cả đời bình an.
Đến năm mười hai tuổi, Tạ Thận Chi mới được đón về phủ. Cũng vào ngày đó, Thái hậu hạ chỉ, ban hôn cho Tô gia và Tạ gia.
Mẫu thân không vui, con gái mình bị ràng buộc cả đời từ sớm.
Nhưng bà không biết, ta vui đến mức nào.
Trên đời này, nữ tử nào có thể muốn gả cho ai thì gả?
Vậy mà ta lại may mắn như vậy.
Tạ Thận Chi luyện võ. Hắn từng nói, khi thực hiện được chí lớn, thiên hạ yên ổn, hắn sẽ cùng người mình yêu cưỡi ngựa đi khắp nơi.
Hắn hy vọng thê tử của mình biết cưỡi ngựa.
Thật ra, con gái Tô gia đâu cần học những thứ này.
Trong kinh thành cũng chẳng có mấy tiểu thư quyền quý đi học.
Tay ta đầy vết chai do dây cương siết, chân là những vết trầy do thân ngựa cọ vào.
Vì học cưỡi ngựa, ta thậm chí còn gãy chân.
Nghe nói hắn thích cô nương có tính cách cứng cỏi, ta cố chịu đựng, không rơi một giọt nước mắt. Ngược lại, ma ma chăm sóc ta khóc đến đỏ mắt.
Chuỗi tràng hạt hắn tặng ta từng bị đứt một lần.
Rơi đúng lúc hội chùa đông nghịt người.
Ta cúi người lần mò giữa dòng người chen chúc, váy trắng bị dẫm đến không còn ra màu gì, tay bị giẫm mấy lần, rách cả da.
Ma ma thấy không ổn, liền ôm ta lên, gần như kéo ta trở về phủ.
Sau đó ta quay lại tìm, nhưng mười tám hạt chỉ tìm được mười hai.
Ta làm mất món đồ duy nhất của ân nhân cứu mạng. Thấy ta buồn quá, mẫu thân sai người tìm sáu hạt tương tự để bù vào.
Nhìn qua thì giống hệt, người ngoài không nhận ra khác biệt.
Chỉ có ta, liếc một cái là biết đâu là thật, đâu là giả.
Những chuyện này, vốn dĩ ta định đợi đến đêm động phòng rồi kể cho Tạ Thận Chi nghe.
Nhưng đó là chuyện của trước kia.
4
Mẫu thân nghe ta đổi ý, kinh ngạc đến mức làm đổ cả chén trà.
“Sao con lại có thể gả cho hắn? Đại lang Tạ gia… hắn… hắn đâu phải người tốt để gửi gắm!”
Không trách mẫu thân phản ứng như vậy.
Đại lang Tạ gia, Tạ Vọng Chi, nổi tiếng tàn nhẫn.
Hắn là chỉ huy sứ Cẩm y vệ, cận thần của hoàng đế, nắm quyền tuần tra bắt giữ, quản cả ngục lớn.
Ngục chiếu là nơi còn đáng sợ hơn cả cái chết.
Kẻ nào bị Cẩm y vệ để mắt tới, ít nhiều cũng phải lột một lớp da, chưa từng có ai bước ra khỏi đó mà còn nguyên vẹn.
Các trọng thần trong triều đều kiêng dè Tạ Vọng Chi vài phần.
Bao năm qua hắn chưa từng cưới vợ. Từng có nữ tử cố ý hắt nước làm ướt y phục hắn để kiếm cớ đến gần, nhưng còn chưa chạm được vào người hắn, đã bị hắn tiện tay bẻ trật cánh tay.
Cả kinh thành, chưa từng thấy hắn liếc nhìn cô nương nào thêm một lần, cũng không lui tới chốn ăn chơi. Bên ngoài đồn rằng đại lang Tạ gia căn bản không gần nữ sắc.
Hơn nữa, Tạ Vọng Chi tuy là trưởng tử, nhưng lại là con thứ. Hắn hơn ta mười tuổi. Khi ta còn đang học chữ, hắn đã đi khắp kinh thành bắt người xử án, nên ngay từ đầu, không ai nghĩ đến chuyện này.
Mẫu thân không để ý gì khác, chỉ chăm chăm nhìn vào mắt ta.
“Vân nhi, con nói thật với mẹ đi. Có phải Tam lang Tạ gia đã nói gì với con không? Những năm qua con làm gì, mẹ đều nhìn thấy. Nếu hắn làm gì con, mẹ tuyệt đối không tha cho hắn!”
Ta nắm lấy tay mẫu thân.
“Tạ Thận Chi không nói gì cả, là con tự nghĩ thông. Hắn đúng là có ơn cứu mạng với con, nhưng đáng tiếc chúng ta không có duyên. Trong lòng hắn không có con. Nếu con cố gả cho hắn, sau này vợ chồng khó mà gần gũi. Huống chi…”
Ta quay sang nhìn phụ thân.
“Huống chi, gả cho Tạ Vọng Chi, với Tô gia chúng ta lại càng có lợi.”
Có lẽ ánh mắt ta quá kiên quyết. Sau một hồi im lặng, phụ thân chậm rãi hỏi:
“Con quyết định rồi?”
“Quyết rồi, không thay đổi nữa.”
Vốn nghĩ chuyện hôn sự này còn phải kéo dài, không ngờ Thái hậu đột nhiên lâm bệnh nặng. Hoàng thượng muốn làm bà vui, nhớ đến mối hôn sự năm xưa bà từng ban, sau khi bãi triều liền nhắc lại với phụ thân và lão gia tử Tạ gia.
Nửa tháng sau, Tạ gia mang sính lễ đến.
Lễ vật lần này rất hậu, đủ sáu mươi bốn rương. Tiền sảnh không chứa hết, còn phải dọn bớt vào hậu viện.
Bọn nha đầu trong viện ta mặt mày rạng rỡ.
“Sáu mươi bốn rương là mức cao nhất rồi, tiểu thư, cô gia đúng là để tâm đến người.”
Ta nhìn cả phòng, cả sân ngập màu đỏ rực, trong lòng lại hiểu rõ. Tạ Vọng Chi và ta chẳng có tình cảm gì, chẳng qua là hôn sự do hoàng gia ban, nên phải làm cho đủ thể diện mà thôi.
Chỉ là ta có chút tò mò, không biết cuối cùng Tạ Thận Chi đã nói gì với đại ca của hắn.
Ngày cưới định sau ba tháng.
Ta không gặp lại Tam lang Tạ gia nữa.
Nghe nói hai anh trai của Thôi Tam Nương không chịu yên, lại đi đánh bạc, còn mượn danh Tạ Thận Chi. Sòng bạc cũng không gây khó dễ, chỉ đem giấy nợ treo lù lù ngay miệng tượng sư tử đá trước phủ họ Tạ.
Chuyện này giải quyết ra sao ta không rõ, chỉ biết quán mì của Thôi Tam Nương không mở nữa.
Tạ Thận Chi tìm cho nàng một căn viện khác, có người hầu hạ ba bữa mỗi ngày.
Nghe vậy ta liền thấy không ổn.
Ta và Thôi Tam Nương chỉ gặp nhau một lần, nhưng việc đầu tiên nàng làm là nói rõ chuyện tiền thuê quán.
Rõ ràng nàng là người có lòng tự trọng, rất để ý đến những lời đồn rằng mình bám víu vào Tam lang Tạ gia.
Nếu thật sự để nàng trở thành “chim trong lồng” như lời đồn, e rằng giữa nàng và hắn sẽ nảy sinh mâu thuẫn.
Nhưng những chuyện đó đã không còn liên quan đến ta.
Ta tự tay thêu áo cưới của mình.
Thời tiết dần ấm lên. Tiểu thư nhà Quốc công họ Tống là bạn từ nhỏ của ta, sắp đến sinh nhật, rủ ta đi chọn trang sức ở cửa tiệm phía nam thành.
Không chỉ mẫu thân, ngay cả Tống Nhược Tích cũng tò mò về việc ta đổi ý, quay sang bàn chuyện hôn sự với Tạ Vọng Chi.
Đích nữ Tô gia bàn chuyện cưới với đại lang Tạ gia - tuy đều là người họ Tạ, nhưng trước đó ai cũng nghĩ người ta chọn là Tam lang.
Trên đường đi, Tống Nhược Tích mấy lần muốn nói lại thôi, cứ nhìn ta mãi. Thấy nàng nhịn đến khổ, ta liền nói:
“Muốn hỏi thì hỏi đi.”
Quả nhiên nàng hỏi ngay điều đó.
Ta nên trả lời thế nào?
Nói rằng Tạ Thận Chi không yêu ta, gả cho hắn chỉ là tự làm khổ mình?
Hay nói rằng Tạ Vọng Chi có quyền thế hơn, gả cho hắn sẽ có lợi cho Tô gia?
Nghĩ một chút, ta đành nói trái lòng:
“Không giấu gì ngươi, ta đã ngưỡng mộ đại lang Tạ gia từ lâu.”
Đúng lúc đó, một đội Cẩm y vệ cưỡi ngựa lao vụt qua. Người đi đầu cưỡi ngựa đen, áo thêu hình cá bay, bên hông đeo đao, gương mặt lạnh lùng, thần sắc hờ hững.
Chính là hắn.
Ta nghẹn lời, tim như hụt một nhịp.
Tống Nhược Tích dường như không nhìn rõ người vừa đi qua. Bụi bay mù mịt, nàng che miệng ho khẽ, nhỏ giọng than:
“Đang yên đang lành lại gặp đám Diêm Vương sống này, không biết lại đi tịch thu nhà ai nữa.”
Ngừng một chút, nàng lại nhớ đến câu chuyện ban nãy, nhìn ta chăm chăm.
“Ngươi nói ngươi ngưỡng mộ đại lang Tạ gia từ lâu? Sao ta không biết? Từ bao giờ?”
Ta ngẩng đầu nhìn trời, trong đầu trống rỗng, bịa đại:
“… Từ yến tiệc Trung thu năm ngoái của Hoàng hậu.”
“Hả? Đại lang Tạ gia có đi sao? Ta nhớ hắn đâu bao giờ tham gia mấy chuyện này.”
Ta cứng nhắc đáp:
“Có, chỉ là ngươi quên thôi.”
5
Đầu tháng tư, ta thành thân với đại lang Tạ gia.
Hôn lễ rất long trọng. Nói không tiếc nuối thì không thể nào.
Dù sao ta đã mong chờ ngày này suốt bao năm. Khi mẫu thân chải tóc cho ta, ta chợt sững lại - liệu có một thế giới khác, nơi không có Thôi Tam Nương, nơi ta và Tạ Thận Chi có thể bên nhau đến bạc đầu?
Tiếng pháo nổ vang, khói bay mù mịt, người người ồn ào náo nhiệt.
Trước khi lên kiệu hoa, ta không nhìn kỹ, đá trúng cột cửa, suýt ngã. Từ bên cạnh có một bàn tay nhanh chóng đỡ lấy ta.
Ta quay đầu nhìn, qua lớp khăn trùm chỉ thấy một bóng người mờ ảo.
Ta khẽ nói lời cảm ơn, xung quanh quá ồn, không biết hắn có nghe thấy hay không.
Tạ Vọng Chi là con thứ, mẹ ruột đã mất. Trong số các huynh đệ, hắn là người lớn tuổi nhất, lại giữ chức quan trọng trong triều, nên đã sớm tách ra ở riêng.
Nhưng đã là thành thân, vẫn phải về nhà chính của Tạ gia, ra mắt họ hàng, dâng trà cho lão gia tử.
Khăn trùm bị cây gậy nhẹ nhàng hất lên. Trước tiên ta nhìn thấy đôi môi mỏng, rồi sống mũi cao. Ta ngẩng mắt lên, bất ngờ chạm phải ánh nhìn của Tạ Vọng Chi.
Thật ra ta đã gặp hắn nhiều lần rồi. Phần lớn khi ấy hắn vội vã đi ngang, bên hông đeo đao, ta chỉ kịp liếc qua. Gần như thế này, nhìn kỹ đến vậy, là lần đầu.
Tạ Thận Chi mang vẻ lạnh lẽo.
Còn vị đại lang Tạ gia này, tuy có ba phần giống hắn, nhưng ánh mắt sắc bén hơn nhiều. Có lẽ do làm Cẩm y vệ, quen sống trong máu tanh quá lâu.
Xung quanh ồn ào, tiếng trêu đùa vang lên không dứt. Không hiểu sao mặt ta đỏ bừng, khẽ mỉm cười với Tạ Vọng Chi. Hắn sững lại, rồi chậm rãi đáp lại một nụ cười, vẻ lạnh lùng nơi眉 mắt như tan đi.
Hôn lễ long trọng, người đến xem cũng đông. Ta nghe có khách khẽ hít một hơi, khen tân nương xinh đẹp.
Đích nữ Tô gia, từ nhỏ được nâng niu, phong thái khí chất, so với công chúa trong cung cũng chẳng kém. Ngày đại hôn, dĩ nhiên phải là người rực rỡ nhất.
Tạ Vọng Chi dẫn ta đi, lần lượt ra mắt người trong Tạ gia. Ta đi sau hắn nửa bước, khoảng cách chỉ cần quay người là chạm tới.
Ta đã lâu rồi mới gặp lại Tạ Thận Chi.
Tam lang Tạ gia, dù đứng giữa đám đông, vẫn là một công tử nổi bật, chỉ cần nhìn là nhận ra.
Xung quanh bỗng im lặng trong thoáng chốc.
Chuyện giữa ta và hắn, trong kinh thành cũng từng có lời đồn. Mọi người đều nhìn ta, tưởng ta sẽ thất thố.
Họ đã đánh giá thấp ta.
Dù thế nào đi nữa, sau này ta và Tạ Vọng Chi mới là người một nhà. Sao có thể để người ta cười chê ngay lúc này.
Ta mỉm cười nhẹ, làm lễ với Tạ Thận Chi. Mọi thứ đều đúng mực, như lần đầu gặp.
“Tam đệ.”
Sắc mặt Tạ Thận Chi không tốt lắm, không có ý cười. Nhưng nghĩ lại, vốn dĩ hắn cũng không phải người hay cười.
Hắn gọi ta: “Đại tẩu.”
Không biết từ lúc nào, Tạ Vọng Chi đã nắm lấy tay ta. Ta siết lại mạnh hơn.
Từ đây, giữa ta và Tam lang Tạ gia, coi như không còn liên quan gì nữa.
6
Cuộc sống sau khi thành thân với Tạ Vọng Chi rất yên ổn.
Hắn bận việc, ít khi ở nhà.
Mọi việc lớn nhỏ trong phủ đều do ta lo liệu. Có chuyện ta không chắc, hỏi ý hắn, hắn chỉ nói cứ làm theo ý ta là được.
Nói ra thì, số ngày hắn về nhà quả thật không nhiều. Có lần ta tiện tay vùi mấy hạt dưa xuống đất, lúc hắn trở về, đã có một vạt hướng dương vươn mình trong gió, màu vàng non tươi tắn, đầy sức sống giữa mùa xuân.
Về sau mỗi lần hắn đi làm nhiệm vụ trở về, đều đưa cho ta một túi nhỏ, bên trong là hạt giống hoa ở các nơi. Đất kinh thành khác chỗ khác, không phải loại nào cũng sống được, ta chỉ cố chăm. Hết một mùa xuân, trong vườn đã nhú lên một mảng cây con. Ta dựng thêm giàn, nghĩ rằng sang năm, dây hoa sẽ leo kín.
Chúng ta chưa từng động phòng.
Không biết có phải vì lời đồn trong kinh thành - hắn không gần nữ sắc.
Nhưng ta mơ hồ cảm thấy còn có lý do khác.
Chuyện giữa ta và Tam lang Tạ gia, hắn không thể không biết. Ta nói đã buông, người ngoài tin được mấy phần?
Chỉ là chuyện này, hắn không nói, ta cũng khó mà chủ động mở lời.
Tạ Vọng Chi là người rất cảnh giác, những việc gần người, hắn không thích để hạ nhân làm.
Có lần hắn ra ngoại thành làm việc. Ngoài thành mười dặm có trạm nghỉ, tuy chỉ đi vài ngày, nhưng vẫn phải chuẩn bị hành lý.
Ta đứng bên cạnh nhìn hắn thu xếp y phục, cuối cùng vẫn không nhịn được, đi lấy một cây ô đưa cho hắn.
“Mang theo đi, hai ngày nữa sẽ mưa.”
Hắn ngẩng đầu, hơi ngạc nhiên nhìn ta, rồi nhận lấy cây ô.
Hai ngày sau quả nhiên mưa lớn đột ngột. Khi trở về, hắn nói mấy người dưới quyền bị ướt sũng, phải trú tạm dưới mái hiên nhà dân.
“Sao nàng biết sẽ mưa?”
Ta nhìn hắn, cười nhẹ.
“Ngươi đoán xem?”
Tạ Vọng Chi nhìn ta, ánh mắt thoáng chút dò xét.
Đêm đó, trước khi ngủ ta tắm. Nước trong thùng rất nóng, ta bảo nha hoàn pha thêm nước lạnh.
Bóng Tạ Vọng Chi hiện lên sau tấm bình phong.
“Người nàng có vết thương cũ, nên dùng nước nóng để đuổi lạnh.”
Ta chưa từng tắm mà có nam nhân ở gần, hoảng quá liền ngồi thụp xuống nước.
Nước quá nóng, ta hít một hơi lạnh, lại không dám đứng dậy ngay.
Trong lúc rối loạn, dường như nghe thấy Tạ Vọng Chi khẽ cười. Khi ta ngẩng đầu lên, phía sau bình phong đã trống không, hắn đã rời đi.
Từ đó về sau, mỗi tối nước tắm đều hơi nóng tay, chỉ là không còn bỏng rát như lần đầu.
Cuối tháng chín, Tạ Vọng Chi bị thương nặng.
Hắn được người dưới quyền cõng về. Thái y trong cung đến xem, nói chỉ lệch thêm hai tấc là đã đụng đến nội tạng, coi như hắn mạng lớn.
Trong phòng mùi máu quá nặng, ta đặt hai chậu hoa nhài bên cửa sổ. Vì sợ nửa đêm hắn sốt, ta thức trắng bên cạnh hắn.
Khi Tạ Vọng Chi tỉnh lại, trong phòng thoang thoảng hương nhài. Ánh sáng đầu tiên của buổi sớm chiếu lên chăn, màu vàng nhạt ấm áp.
Ta chú ý đến những điều đó vì lúc ấy ta đang ngẩn người.
Ta đã thức hai đêm liền, đầu óc choáng váng, hoàn toàn không nghĩ rằng hắn đã tỉnh.
Thậm chí ta còn mơ màng chào hắn một câu “buổi sáng tốt lành”.
Ngốc hết chỗ nói.
Hắn không nói gì, chỉ lặng lẽ nhìn ta.
Đến khi qua một lúc, ta mới phản ứng lại, luống cuống rót nước cho hắn, hỏi hắn thấy thế nào.
Tạ Vọng Chi gọi tên ta.
“A Vân, nàng gầy đi nhiều.”
Thái y dặn hắn phải tĩnh dưỡng, trước khi lành hẳn không được xuống giường, càng không được nổi giận.
Có lẽ đã nhiều năm hắn chưa từng nghỉ dài như vậy. Người dưới quyền không dám làm phiền, mỗi ngày chỉ báo những việc quan trọng nhất, hai tờ giấy mỏng, xem một lát là xong.
Lúc rảnh, hắn tựa nửa người, nhìn ta đọc sổ sách, quản việc trong nhà.
Có một ngày, có lẽ quá buồn chán, lúc uống trà, hắn hỏi ta:
“Trước đây khi nàng gãy chân, nằm trên giường thì làm gì?”
Ta nghĩ một chút, đáp:
“Đọc kinh Phật.”
Tạ Vọng Chi hơi nghiêng người, nói:
“Vậy đọc một đoạn đi.”
Ta đọc một đoạn nhỏ trong Quan Âm Kinh.
Đọc xong, Tạ Vọng Chi hỏi ta:
“Nàng thích lễ Phật lắm sao?”
Ta nói thật:
“Không thích. Ta luôn thấy rất khô khan. Chỉ là nhiều năm như vậy, thành quen rồi.”
Đã nói đến đây, ta tiện thể nhắc đến Tạ Thận Chi.
Ngày tốt hay xấu rồi cũng phải sống. Dù sao ta cũng sẽ cùng đại lang Tạ gia sống lâu dài, không muốn vì những chuyện này mà sinh khoảng cách.
Đây là lần đầu tiên ta nói với hắn về tam đệ của hắn.
Chuyện học cưỡi ngựa, chuyện học kinh Phật, chuyện tìm lại chuỗi hạt… những chuyện mà Tạ Thận Chi chưa từng biết, không ngờ cuối cùng ta lại kể hết cho Tạ Vọng Chi.
Hắn lặng lẽ nghe vợ mình nói về một người đàn ông khác, vẻ mặt rất chăm chú.
Ta nói với hắn:
“Thật ra lúc đầu biết chuyện hắn và Thôi Tam Nương, ta vẫn rất oán. Tại sao chứ? Ta đã cố sống thành kiểu người hắn thích suốt bao năm, vậy mà cuối cùng hắn lại không hề yêu ta.”
“Sau đó ta nghĩ thông rồi. Đứng ở phía Tạ Thận Chi, hắn dựa vào đâu mà phải thích ta chỉ vì ta đã cố gắng. Những năm này, lễ Phật khiến tính ta lắng lại, học cưỡi ngựa giúp ta có thể đi đây đi đó. Nói là vì hắn, nhưng cuối cùng vẫn là thứ thuộc về bản thân ta. Nghĩ kỹ, ta còn phải cảm ơn hắn.”
“Lúc nhỏ ta không hiểu chuyện, nhầm ơn cứu mạng thành tình yêu. Giờ nghĩ lại, tam lang Tạ gia là người tốt, bất kỳ ai rơi vào cảnh khốn cùng hắn cũng sẽ cứu. Chuyện đó không liên quan ta là nam hay nữ, đẹp hay xấu.”
“Có lẽ thứ ta yêu không phải là hắn, mà là quãng thời gian ta đã dốc lòng theo đuổi hắn. Bao năm trôi qua, đều là ta tự làm khổ mình.”
Nói đến cuối, khóe mắt ta ướt, nhưng cũng nhẹ nhõm vì cuối cùng đã nói ra.
Tạ Vọng Chi vẫy tay gọi ta lại gần.
Hắn vuốt lại lọn tóc rơi bên tai ta, khẽ nói:
“Đợi ta khỏi hẳn, chúng ta đi cưỡi ngựa, được không? Ta nuôi hai con ngựa con, là một cặp sinh đôi. Đợi ta khỏe lại, chúng cũng lớn rồi.
Ngày mai ta cho người dắt đến, nàng xem thử.”
Ta nhìn hắn, mắt sáng lên. Tạ Vọng Chi quay mặt đi, có chút không tự nhiên, ho khẽ một tiếng.
Ta chợt hiểu ra:
“À, có phải vết thương đau không? Ta đi xem thuốc sắc xong chưa.”
Ta đi qua hành lang, ở góc rẽ thấy đặt hai cuộn tranh và một củ nhân sâm.
Ta gọi người hầu đang trực đến hỏi. Tên tiểu tư giật mình:
“Sao vậy? Tam công tử không mang vào sao?”
“Tam công tử?”
“Vâng, vừa rồi tam công tử mang mấy thứ này đến, nói là đến thăm đại công tử bị thương.”
Ta nhìn ra ngoài, chỉ thấy một đàn én bay lên mái nhà.
Đâu còn bóng dáng Tam lang Tạ gia.
7
Hai anh trai của Thôi Tam Nương chết rồi.
Chết ở bãi hoang ngoài thành Kim Lăng, chết rất thảm, thi thể bị chém thành nhiều khúc.
Sau chuyện tờ giấy nợ treo ở miệng sư tử đá, lão phu nhân Tạ gia đã lên tiếng, bắt hai người đó cút khỏi kinh thành, đừng làm xấu mặt Tạ gia. Thành Kim Lăng là nơi Tạ Thận Chi sắp xếp cho họ đi. Ở đó Tạ gia không có thế lực, hắn nhờ bạn tìm cho họ việc làm, hy vọng rời xa chỗ dựa là Tạ gia, họ có thể làm lại.
Nhưng mọi chuyện lại đi ngược mong muốn. Đến Kim Lăng, hai người họ càng quá quắt hơn, ra vào sòng bạc, kỹ viện, sống rất khoái lạc. Người bạn của Tạ Thận Chi bị đòi nợ liên tục đến phát phiền, đã mấy lần viết thư cho hắn, rõ ràng là không chịu nổi nữa.
Tống Nhược Tích có họ hàng xa làm quan ở Kim Lăng, nên sớm biết tin. Cuối thư, nàng hỏi ta:
“Ngươi nói xem, nếu Thôi Tam Nương biết chuyện này, sẽ thế nào?”
Nếu ta là Tạ Thận Chi, đương nhiên sẽ giấu kín.
Nhưng cuối cùng, Thôi Tam Nương vẫn biết.
Nàng đến trước nha môn đánh trống kêu oan, tố cáo Tam lang Tạ gia thuê người giết người.
Tin này vừa lan ra, kinh thành chấn động.
Trong kinh không thiếu công tử nuôi tình nhân bên ngoài, nhưng bị quay lại tố khiến bản thân dính vào chuyện như vậy, Tạ Thận Chi là người đầu tiên.
Ngay cả mẫu thân cũng gửi thư cho ta, nói may mà ta gả cho đại lang Tạ gia, nếu không thì chẳng có ngày nào yên ổn.
Chuyện này chưa chắc là do Tạ Thận Chi làm. Hai anh em họ Thôi gây thù không ít. Dù thật sự là hắn làm, thì một cô gái như Thôi Tam Nương cũng khó lòng kiện được người của Tạ gia.
Ta đã hỏi Tạ Vọng Chi.
Hắn nói nếu ta muốn biết sự thật, có thể cho Cẩm y vệ đi tra.
Ta nghĩ một lúc rồi nói không cần.
Sự thật không nằm ở ta, mà nằm ở việc Thôi Tam Nương tin điều gì. Giữa họ đã có hai mạng người, e rằng khó mà kết thúc yên ổn.
Lần sau gặp lại Tạ Thận Chi là trong một bữa tiệc của Tạ gia.
Trong bữa tiệc, nhị tẩu nổi hứng, ngồi đánh đàn. Ta dùng sáo hòa theo.
Khi quay lại chỗ ngồi, Tạ Vọng Chi đã bóc sẵn một đĩa thịt cua cho ta.
Lão phu nhân Tạ gia nhìn thấy, không khỏi cảm khái.
Bà nhắc đến chuyện xưa, nói rằng bà và tổ mẫu ta từng rất thân thiết, nhưng sau khi mỗi người lấy chồng sinh con, theo chồng đi khắp nơi mưu sinh, liên lạc dần ít đi. Không ngờ đến lúc già, lại trở thành thông gia.
Nói đến cuối, bà lặng lẽ rơi nước mắt, lại nhắc đến việc con cháu đều đã thành gia lập thất, chỉ còn đứa cháu út Tạ Thận Chi vẫn chưa cưới.
Bà giục mẫu thân của hắn sớm lo chuyện hôn sự.
Tuổi bà đã cao, lại bị người dưới giấu giếm, nên không biết chuyện của Thôi Tam Nương.
Nhưng cả kinh thành đã bàn tán ầm ĩ, còn nhà nào muốn gả con gái tốt vào làm tam phu nhân Tạ gia nữa.
Nghe nói mẫu thân hắn đã âm thầm tìm người ở nơi khác.
Bữa cơm đến cuối, ai cũng có tâm sự riêng, không khí nặng nề. Tạ Thận Chi càng chỉ ăn qua loa rồi tìm cớ rời đi.
Đêm đó, khi hạ nhân đến báo tam công tử xin gặp, ta suýt tưởng mình nghe nhầm.
Giờ này ta đã tháo hết trang sức, sao tiện gặp nam nhân bên ngoài.
Ta sai người ra từ chối, bảo có gì ngày mai hãy nói.
Nhưng tên tiểu tư quay lại nói, tam công tử nhất quyết không đi.
Nghĩ đi nghĩ lại, dù sao cũng là người trong nhà, có lẽ có việc gấp. Ta vừa thay y phục, vừa sai người đi báo cho Tạ Vọng Chi một tiếng.
Sắc mặt Tạ Thận Chi đỏ khác thường, rõ ràng sau khi rời tiệc đã uống rượu ở bên ngoài.
Hắn gầy đi nhiều, chắc hẳn Thôi Tam Nương đã làm ầm ĩ với hắn không ít.
Đêm khuya còn đến, đã là không phải phép, huống chi lại đứng chắn trước cửa viện của ta như vậy.
Có nha hoàn lấy can đảm tiến lên mời hắn lùi lại. Tạ Thận Chi cúi mắt một lúc, rồi ngẩng lên, trong mắt đã có nước.
Cuối cùng hắn cũng hối hận.
Giọng hắn run run:
“Ta và Thôi Tam Nương… ta chỉ thương nàng ấy cô khổ…”
Có lẽ hôm đó ta nói chuyện với Tạ Vọng Chi, đã bị hắn nghe được.
Ta khoanh tay trong tay áo, nhìn hắn.
“Không liên quan đến ta nữa,” ta nói, “ngươi không cần phải giải thích với ta.”
Tạ Thận Chi há miệng, như có ngàn lời muốn nói, cuối cùng chỉ thốt ra một câu khàn khàn đầy cay đắng:
“Xin lỗi.”
Xin lỗi cái gì?
Ta từng dập đầu trước Phật ba nghìn lần cầu cho hắn.
Cũng từng bị dây cương cứa rách da chảy máu.
Nhưng tất cả đều là ta tự nguyện, không liên quan đến hắn.
Ta lắc đầu với hắn.
“Ngươi không nợ ta.”
Tạ Thận Chi, ngươi không nợ ta.
Nghĩ đến việc hắn có kiếp nạn, ta sai người lấy chuỗi tràng hạt trên giá xuống đưa cho hắn.
“Năm đó ngươi cứu ta một mạng. Sau đó mẫu thân ta cũng đã đến phủ ngươi tạ ơn, nhưng vàng bạc cuối cùng vẫn không thể nói hết lòng ta. Nếu sau này ngươi có việc gì cần, Tô gia chúng ta trong triều cũng còn có tiếng nói. Phu quân ta bên ngoài cũng có quan hệ. Có việc gì cần giúp, chỉ cần nói một tiếng.”
“Chuỗi hạt này ta đã đặt trước Phật nhiều năm, hy vọng có thể giữ cho ngươi bình an.”
Tạ Thận Chi ngơ ngác nhìn chuỗi hạt, như thể tim bị ai đó bóp chặt.
Hắn cười khổ, mắt đầy cay xót.
“Ta thà nàng hận ta. Chúng ta… chúng ta vốn nên…”
Hắn vừa định bước tới, phía sau bỗng vang lên một giọng nói lạnh lẽo:
“Tam đệ.”
Tạ Vọng Chi dưỡng thương lâu ngày, trông có vẻ nhàn tản.
Lúc này hắn đứng dưới mái hiên, áo bào theo gió lay động, ánh mắt sắc lạnh đến đáng sợ. Ta chợt nhớ ra người này là chỉ huy sứ Cẩm y vệ của Đại Tĩnh, người nắm giữ ngục chiếu, tâm cơ sâu khó lường.
“Nàng bây giờ là đại phu nhân của Tạ gia, nửa đêm ngươi tìm đại tẩu có chuyện gì?”
Tạ Thận Chi nói trong uất hận:
“Nếu không phải ta nhất thời hồ đồ, hôn sự này làm sao đến lượt huynh?”
Tạ Vọng Chi bước đến chắn trước mặt ta, ánh mắt cảnh cáo nhìn người đệ đệ, rồi lạnh lùng vỗ tay.
“Tam công tử say rồi. Người đâu, đưa hắn đi nghỉ.”
Tạ Thận Chi giằng ra khỏi người đỡ, giọng gần như nghẹn lại:
“Đại ca, huynh là con thứ, lúc nhỏ mẫu thân ta đối xử với huynh không tốt. Ta làm sai chuyện gì, thường là huynh chịu phạt thay… Mẫu thân nói để huynh thay ta gánh hôn sự này, với quyền thế của huynh bây giờ, sao còn nghe lời bà…”
“Huynh… cũng muốn cưới Tô tiểu thư đúng không…”
Ta bỗng quay sang nhìn Tạ Vọng Chi.
Hắn đứng chắn trước ta, không thấy rõ vẻ mặt, chỉ nghe giọng cười mang ý châm biếm:
“Phải thì sao?”
“Còn phải cảm ơn ngươi, tam đệ.”
8
Tạ Thận Chi dâng tấu lên hoàng đế, xin đi trấn giữ Lĩnh Nam.
Con cháu thế gia ra chiến trường lập công không phải hiếm, nhưng Lĩnh Nam lại là ngoại lệ.
Rừng sâu, sương độc, nhiều khi chưa kịp ra trận đã chết trong đầm lầy hay sương mù.
Đó là nơi nguy hiểm nhất, tiền lương cho binh lính cũng cao hơn nơi khác gấp đôi.
Hắn đi chuyến này, sống chết khó nói.
Mẫu thân hắn đổ bệnh nặng.
Bà gần bốn mươi mới sinh được một đứa con, lại vì lời tiên đoán mà phải gửi con vào chùa, xa cách máu mủ.
Khó khăn lắm mới mong con bình an trưởng thành, vậy mà hắn lại nhất quyết đến Lĩnh Nam chịu khổ.
Sao bà chịu nổi.
Nghe nói sau khi khỏi bệnh, bà trút giận lên ta, cho rằng mọi trắc trở của Tạ Thận Chi đều do ta mà ra. Tính ra năm nay hắn vừa tròn mười chín, đúng là ứng với kiếp nạn.
Ma ma thân cận âm thầm khuyên ta nên đề phòng bà, sợ bà trong lúc nóng giận sẽ làm chuyện không hay.
Ta lắc đầu. Không nói đến Tô gia quyền thế, chỉ riêng hiện giờ, danh tiếng Tạ gia phần lớn cũng do Tạ Vọng Chi chống đỡ, bà không dám làm gì ta.
Phòng người là cần thiết, nhưng người cần phòng không phải ta.
Ta sai hai người đến gần chỗ ở của Thôi Tam Nương canh chừng. Nếu có chuyện gì thì âm thầm giúp đỡ.
Quả nhiên, không bao lâu đã có tin, Thôi Tam Nương suýt bị đầu độc, hiện đã được bí mật đưa ra khỏi thành.
Từ đó về sau, trời đất rộng lớn, không biết nàng sẽ đi đâu.
Vết thương của Tạ Vọng Chi đến cuối đông mới thật sự khỏi hẳn.
Hắn giữ chức cao, trực tiếp nghe lệnh hoàng đế, dưới tay lại có nhiều người, vết thương vừa đóng vảy đã quay lại làm việc.
Người đời sợ Cẩm y vệ như Diêm Vương sống, ai mà biết vị chỉ huy cưỡi ngựa kia, dưới lớp áo gấm là đầy vết thương.
Ngày lập xuân, hắn được nghỉ. Trời trong xanh hiếm có, chúng ta quyết định đến trường ngựa xem hai con ngựa con.
Một con tên Táp Lộ, một con tên Thanh Truy.
Chúng đã lớn, lông bóng mượt dưới ánh nắng, thỉnh thoảng lại dụi tai vào lòng bàn tay người.
Tạ Vọng Chi bỗng nổi hứng, xoay người lên ngựa, dáng vẻ phóng khoáng, mắt sáng rực.
Hắn hơi cúi người về phía trước, nhướng mày nhìn ta:
“Dám thi cưỡi ngựa với ta không?”
Nếu là chuyện khác, có lẽ ta còn do dự, nhưng hắn lại chọn cưỡi ngựa.
Ta ngẩng đầu nhìn hắn.
“Nếu ngươi thua thì sao?”
Tạ Vọng Chi chắp tay cười:
“Tùy đại phu nhân Tạ gia xử trí.”
Trong lòng ta chấn động.
Sau khi thành thân, hắn cũng nhiều lần gọi ta là phu nhân.
Nhưng khi đó chỉ như gọi cho có, chẳng khác gì gọi một cái tên.
Chưa bao giờ như lúc này, trong mắt có ý cười, phóng khoáng như vậy.
Ta có chút ngượng, quay mặt đi, khẽ nói:
“Vậy ngươi phải giữ lời.”
Áo bào bị gió thổi căng, bụi tung mù mịt, tiếng vó ngựa vang như sấm. Ta chưa từng cưỡi nhanh như vậy, gió táp vào mặt như dao cắt, nhưng vẫn nghiến răng, thúc mạnh chân, quất roi, lao đi như sao băng.
Tạ Vọng Chi bám sát bên cạnh, gần như ngang hàng với ta.
Suốt một đường phi nhanh, mọi phiền muộn đều bị bỏ lại phía sau. Ta thở ra một hơi dài, chỉ thấy lòng nhẹ nhõm, sảng khoái vô cùng.
Qua con suối cuối cùng là đến tận cùng bãi ngựa.
Ta giơ roi, quất mạnh một cái. Thanh Truy hí vang, vượt lên trước, nhảy qua đám đá lởm chởm bên suối.
Ta thắng rồi.
Trong lòng vui sướng vô cùng.
Ta ghìm cương, quay đầu phi lên phía thượng nguồn, lớn tiếng gọi tên hắn:
“Tạ Vọng Chi - ”
“Hử?”
Hắn cũng đang cười, mắt sáng long lanh, khóe môi cong lên.
“Vì sao ngươi lại cưới ta?”
Ta là đích nữ Tô gia, hai nhà vốn có hôn ước.
Nhưng vì sao ngươi lại cưới ta?
Ta muốn nghe một lý do mà ta chưa từng biết.
Rốt cuộc là vì điều gì.
Tạ Vọng Chi cười lớn:
“Biết ngay nàng sẽ hỏi câu này. Nói rồi thì không được giận đấy. Cưỡi ngựa ta không bằng nàng, nếu nàng tức chạy mất, ta không đuổi kịp đâu.”
Ta giơ roi lên, quả quyết:
“Không giận, ngươi nói đi.”
“Mới đầu là tò mò. Một cô nương dám từ chối Tạ Thận Chi giữa đường, rốt cuộc là người thế nào. Nàng biết mà, ta và hắn từ nhỏ đã có chút khúc mắc.”
“Sau đó, ta nghe cô nương ấy nói, nàng ấy đã ngưỡng mộ ta từ lâu. Nàng nghiêm túc bịa chuyện - ”
“Dừng! Không được nói nữa!”
Ta xấu hổ đến đỏ mặt, tức giận định đánh hắn. Hắn đã sớm phòng bị, cười vang, vung roi, thúc ngựa lao đi.
“Tô Mộ Vân, dám so thêm một lần nữa không?”
“So cái gì?”
“So gì không quan trọng. Chỉ là người thua phải ở bên người thắng, cùng nhau đến bạc đầu, không rời.”
Ánh nắng chói chang, hương cỏ xanh lan trong không khí. Dòng suối lấp lánh, người kia ngồi trên lưng ngựa, khóe môi mỉm cười.
Tim ta khẽ động, thúc ngựa đuổi theo.
“So thì so, ai sợ ai?”
Ngoại truyện – Tạ Thận Chi
Hai năm sau, Tạ Thận Chi trở lại kinh thành.
Lúc này, đầu đường cuối ngõ đã có những chuyện mới để bàn tán, không còn ai nhắc đến chuyện giữa hắn và Thôi Tam Nương nữa.
Hắn trở về phủ rất thuận lợi.
Hai năm rèn luyện trong quân, hắn đen đi, khí chất cũng trầm ổn hơn.
Ngày hắn rời đi, mẫu thân khóc lóc ngăn cản, nói nếu dám đi thì đừng quay về. Giờ hắn trở lại, nhìn đứa con phong trần mệt mỏi, bà nào còn nhớ mình từng nói lời tuyệt tình ra sao.
Hắn trở về nhận chức. Hoàng thượng ban chỉ, phong hắn làm phó thống lĩnh, phụ trách hỗ trợ phòng vệ kinh thành.
Tạ Thận Chi sớm biết lần này trở về sẽ gặp Tô Mộ Vân - vị tiểu thư Tô gia suýt trở thành thê tử của hắn.
Chuyện này trên đường về hắn đã nghĩ không biết bao nhiêu lần.
Thời gian đã trôi, mọi chuyện đều là quá khứ hai năm trước. Gặp lại, nên giữ thể diện.
Trong thư, mẫu thân nói Tô Mộ Vân đã có thai, cuối năm sẽ sinh.
Nhưng khi thực sự nhìn thấy nàng qua tấm bình phong, hắn vẫn không nhịn được siết chặt tay.
Tô Mộ Vân vừa tỉa một chậu tùng thấp, vừa nói chuyện với Tạ Vọng Chi, bảo đã chuẩn bị quà mừng thọ cho Thái hậu, năm mới sắp đến, dặn hắn nên đi lại giao thiệp với đồng liêu.
Đó là những lời chỉ có thê tử thân thiết mới nói với phu quân.
Bề ngoài Tạ Vọng Chi nghe, nhưng ánh mắt lại đặt hết lên người nàng.
Hắn chăm chú nhìn cây kéo trong tay nàng, sợ nàng bất cẩn làm bị thương mình.
Thấy hắn lơ đãng, Tô Mộ Vân dậm chân, buột miệng kêu một tiếng.
Tạ Vọng Chi lập tức hoàn hồn, quay sang dỗ nàng.
Trong khoảnh khắc, Tạ Thận Chi thấy hoang mang.
Hắn từng tận mắt thấy đại ca mình trong ngục, móc xương bánh chè của người ta.
Sự xuất hiện của hắn giống như một lưỡi dao đâm vào bức tranh yên bình đẹp đẽ.
Tranh vỡ, mộng cũng tan.
Tô Mộ Vân thấy hắn, lập tức thu lại dáng vẻ thiếu nữ, trở về phong thái trầm ổn đoan trang của chủ mẫu.
Nàng chào hỏi hắn, khách khí mà xa cách.
Không có chút sai sót nào.
Tạ Thận Chi ghét nhất chính là dáng vẻ đó!
Bọn họ… rõ ràng… vẫn có quá khứ, không phải sao?
Dù không phải ký ức đẹp, nhưng họ từng bàn chuyện hôn sự.
Đã suýt thành thân.
Cái “suýt” đó, là vì một cô gái tên Thôi Tam Nương.
Nghe nói nàng hiện giờ ở Kim Lăng, lại mở một quán hoành thánh bên cổng thành. Sống có tốt hay không, hắn không dám hỏi.
Hắn vốn nghĩ mình là anh hùng cứu mỹ nhân, không ngờ lại không vượt qua nổi những chuyện cơm áo gạo tiền.
Luôn có lời đồn nói Thôi Tam Nương dụ dỗ hắn.
Thật ra hoàn toàn oan uổng.
Quán của nàng đông khách như vậy, nếu muốn gả vào nhà giàu, nàng đã gả từ sớm rồi, cần gì phải đợi đến lúc suýt chết trong tuyết.
Ban đầu hắn yêu nàng chính vì cốt khí đó, cuối cùng lại cũng vấp ngã vì chính điều đó.
Có lần họ cãi nhau vì chuyện hai anh em họ Thôi, nàng lại đòi ra ngoài làm ăn. Thật nực cười, có nhà nào mà thê thiếp suốt ngày đòi mở quán buôn bán chứ.
Người của hắn mà phải ra ngoài quét dọn, phục vụ người khác, có hợp không?
Họ cứ vì những chuyện đó mà cãi vã.
Có lần cãi dữ quá, nàng cào hắn một vết, đỏ rực trên cổ, vài ngày là hết, nhưng cũng đủ khiến hắn mấy ngày không dám ra ngoài.
Tạ Thận Chi đập vỡ cả ấm trà.
Thật ra hắn không yêu Tô Mộ Vân.
Nhưng đúng khoảnh khắc đó, hắn lại bắt đầu hối hận -
Sao hắn không cưới Tô Mộ Vân?
Bọn họ môn đăng hộ đối, có thánh chỉ ban hôn, cùng sở thích, cùng tầng lớp. Tô Mộ Vân hoàn toàn biết cách làm một chủ mẫu.
Đáng chết.
Sao hắn lại không cưới nàng?
Tạ Thận Chi cười thê lương. Rõ ràng hắn có thể rất hạnh phúc, vậy mà lại tự tay dâng hạnh phúc đó cho đại ca mình.
Hắn là người đã đi nước cờ thì không hối hận.
Chỉ riêng chuyện này, hắn cứ nghĩ mãi, ý niệm ấy như dây leo mọc lan trong lòng.
Đặc biệt là mỗi khi nhìn thấy hai người họ ở bên nhau.
Biệt viện của đại ca, hắn từng đến.
Quy củ nghiêm ngặt, người dưới sợ bị phạt, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không có chút hơi người.
Giờ Tô Mộ Vân đến, nàng đối xử tốt với hạ nhân, không khí trong phủ nhẹ nhàng hơn hẳn. Trong vườn còn có thêm một luống hoa, giàn leo phủ kín hoa bìm bìm tím.
Còn hắn -
trở thành trò cười trong kinh thành, bị Thôi Tam Nương kiện ra công đường.
Mẫu thân không nói, nhưng tóc đã bạc đi.
Ở Lĩnh Nam, hắn từng bị côn trùng độc cắn, sốt li bì ba ngày ba đêm mới tỉnh. Khi tỉnh lại, tay nắm chặt chuỗi tràng hạt đeo bên mình. Người ngoài đều nói hắn mạng lớn.
Chỉ có hắn biết -
Tam lang Tạ gia, đã chết trong kiếp nạn năm mười chín tuổi.
- Hết -
