Làng tôi có một quy củ: sau khi có người mất, trong bảy ngày đầu, trong nhà không được để gương.
Hồi nhỏ tôi không hiểu, mới hỏi bà nội tại sao. Bà bảo gương có thể soi thấy hồn, người mới mất, hồn vẫn còn quanh quẩn trong nhà; nếu bị gương giữ lại thì sẽ không thể đầu thai.
Khi ấy tôi tin là thật, về sau mới biết, quy củ này không phải dành cho người chết, mà là để bảo vệ người sống.
Tôi tên là Lâm Tiểu Mãn, năm nay hai mươi tám tuổi, quê ở một ngôi làng nhỏ phía đông Hà Nam. Trong làng không nhiều người, chỉ hơn trăm nóc nhà, phần lớn đều họ Lâm. Ông bà nội tôi mất sớm, bố tôi là con một, còn tôi cũng là con một. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi làm việc trên thành phố, một năm chẳng về được mấy lần.
Mọi chuyện bắt đầu từ tiết Thanh minh năm ngoái.
Hôm đó tôi về quê tảo mộ, xong xuôi thì mẹ bảo ghé qua nhà bà Hai chơi một lát. Bà Hai là vợ của em trai ông nội tôi, đã ngoài tám mươi nhưng sức khỏe vẫn còn tốt, sống một mình.
Nhà bà Hai vẫn là căn nhà cũ, tường đất, mái ngói, gian chính thờ bài vị tổ tiên. Lúc chúng tôi bước vào, bà đang ngồi ngoài sân phơi nắng. Thấy chúng tôi, bà nheo mắt cười, nói Tiểu Mãn về rồi à, lớn thành cô gái rồi đấy.
Mẹ tôi hỏi: “Thím Hai, sức khỏe của thím vẫn tốt chứ?”
Bà Hai cười đáp: “Tốt, tốt lắm, sống thêm mười năm nữa cũng không thành vấn đề.”
Chúng tôi trò chuyện được một lúc, bà Hai đột nhiên nói: “Tiểu Mãn à, lại đây, để bà nhìn con một chút.”
Tôi bước tới, ngồi xổm bên cạnh bà. Bà đưa tay sờ mặt tôi, bàn tay lạnh ngắt như băng. Bà nói: “Con bé này số cứng, giống hệt bà nội con.”
Tim tôi chợt giật thót, không dám tiếp lời.
Bà Hai lại nói: “Lúc bà nội con mất cũng ở độ tuổi này, cũng vào khoảng trước sau tiết Thanh minh.”
Tôi nói: “Bà Hai, bà nội con mất vì bệnh, hơn sáu mươi tuổi rồi, sao lại giống cháu bây giờ được.”
Bà không nói gì, nhìn tôi rất lâu rồi mới bảo: “Tối nay đừng đi, ở lại nhà đi.”
Tôi đáp: “Không được đâu, trên thành phố cháu còn việc, phải về.”
Bà Hai nói: “Về đi, về đi.” Dừng một chút, bà lại dặn: “Nhớ che gương lại, đừng soi ban đêm.”
Lúc đó tôi không để tâm, nghĩ người già mê tín thôi. Chào mẹ xong, tôi lái xe trở về thành phố.
Trên đường đi ngang qua một ngôi làng, trời đã tối đen như mực. Tôi lái hơi nhanh, bỗng nhìn thấy bên đường có một người đứng đó, mặc đồ trắng, tóc dài xõa vai. Tôi phản xạ đạp phanh, xe vừa dừng hẳn, nhìn lại thì không thấy ai nữa.
Tôi nghĩ chắc mình nhìn nhầm nên tiếp tục lái. Đi chưa được bao xa, tôi lại thấy một người nữa, vẫn là đồ trắng, vẫn mái tóc dài. Lần này tôi nhìn rất rõ, là một người phụ nữ, quay lưng về phía tôi, đứng giữa đường.
Tôi bắt đầu hoảng, bấm còi mấy cái nhưng cô ta không nhúc nhích. Tôi đánh lái vòng qua, nhìn vào gương chiếu hậu thì thấy cô ta vẫn đứng đó, bất động.
Về đến nhà, tôi kể chuyện này với bạn mình. Cô ấy nói chắc do tôi quá mệt nên hoa mắt. Tôi cũng nghĩ có lẽ vậy nên không để trong lòng nữa.
Nhưng từ đó, chuyện lạ bắt đầu xảy ra.
Mỗi đêm đúng mười hai giờ, đèn đường dưới lầu nhà tôi sẽ nhấp nháy ba lần. Không hơn không kém, đúng ba lần. Khu chung cư tôi ở là khu mới xây, đèn đường đều còn mới, không thể nào là do chập chờn tiếp xúc được.
Ban đầu tôi không để ý, về sau mới phát hiện không chỉ có đèn đường. Bảo vệ dưới lầu nói dạo này thường có người nửa đêm đi lòng vòng trong khu, mặc đồ trắng, tóc dài, không nhìn rõ mặt. Bảo vệ đuổi theo nhưng không đuổi kịp, người đó cứ như biến mất giữa không trung vậy.
Tôi hỏi: “Anh nhìn rõ là nam hay nữ không?”
Bảo vệ đáp: “Là nữ, chắc chắn là nữ, tóc dài như thế mà.”
Tôi thấy da đầu tê dại, không dám nói thêm gì.
Vài ngày sau, tôi bắt đầu nằm mơ. Trong mơ có một người phụ nữ mặc đồ trắng, tóc dài xõa vai, đứng bên giường nhìn chằm chằm vào tôi. Tôi muốn kêu mà không kêu được, muốn cử động cũng không thể. Lần nào cũng vậy, nội dung giấc mơ giống hệt nhau.
Tôi đi bệnh viện khám, bác sĩ bảo do áp lực quá lớn nên kê cho ít thuốc an thần. Tôi uống rồi mà chẳng có tác dụng, giấc mơ ấy vẫn cứ lặp lại.
Mẹ tôi biết chuyện thì hỏi: “Có phải con dính phải thứ gì không sạch sẽ không?”
Tôi nói: “Không có đâu, chỉ là con làm việc mệt quá thôi.”
Mẹ bảo: “Vậy thì về ở mấy hôm đi, mẹ nhờ bà Hai xem cho con.”
Tôi hỏi: “Bà Hai biết chuyện này sao?”
Mẹ nói: “Hồi còn trẻ bà ấy là bà đồng trong làng, sau này không làm nữa, nhưng hiểu biết rất nhiều.”
Không còn cách nào khác, tôi xin nghỉ phép rồi về quê.
Vừa thấy tôi, bà Hai không nói gì, chỉ nhìn tôi rất lâu. Sau đó bà bảo: “Cởi áo khoác ra, để bà xem.”
Tôi sững người một chút: “Bà Hai, chuyện này…”
Bà nghiêm giọng: “Cởi ra, nhanh lên.”
Tôi đành cởi áo ngoài. Bà đi vòng quanh tôi một lượt, đưa tay sờ lên lưng tôi rồi nói: “Trên lưng con có thứ gì đó.”
Tôi hỏi: “Có gì vậy ạ?”
Bà nói: “Có một vết, giống như dấu tay.”
Tôi bảo mẹ nhìn thử, mẹ nói không có gì cả, lưng tôi vẫn bình thường.
Bà Hai nói: “Các con không thấy, nhưng bà thấy. Thứ này bám lên người con cũng được một thời gian rồi, ít nhất là một tháng.”
Tôi tính nhẩm trong lòng, đúng là cũng gần như bắt đầu từ sau tiết Thanh minh.
Tôi hỏi: “Bà Hai, rốt cuộc đây là thứ gì?”
Bà không trả lời, ngược lại hỏi tôi: “Gần đây con có soi gương không?”
Tôi đáp: “Có chứ, ngày nào cũng soi.”
Bà hỏi tiếp: “Ban đêm có soi không?”
Tôi nói: “Có lúc buổi tối rửa mặt cũng soi.”
Bà thở dài: “Vậy thì đúng rồi.”
Tôi nói: “Bà Hai, bà nói rõ hơn đi.”
Bà nói: “Lúc bà nội con mất, trong nhà không che gương, hồn bị gương giữ lại nên không thể đầu thai. Hồn đó không tìm được nơi đi, nên tìm đến con.”
Tôi hỏi: “Tìm cháu để làm gì?”
Bà đáp: “Con là cháu nội của bà ấy, huyết mạch liền nhau, bà ấy chỉ có thể tìm con.”
Tôi hỏi: “Vậy bà ấy muốn làm gì?”
Bà nói: “Bà ấy muốn mượn mạng con để sống lại.”
Lúc đó tôi bật cười: “Bà Hai, bà đừng dọa cháu nữa, thời buổi nào rồi mà còn tin chuyện này.”
Bà không cười, chỉ nói: “Con không tin cũng được, nhưng tối nay đừng soi gương, thử xem.”
Tôi đáp: “Được, tối nay cháu không soi.”
Tối hôm đó lúc rửa mặt, tôi cố ý lấy khăn phủ kín chiếc gương trong nhà vệ sinh. Rửa mặt xong, đang chuẩn bị đi ngủ thì đột nhiên nghe thấy trong nhà vệ sinh có tiếng động.
Giống như có ai đó đang soi gương, chải tóc.
Tôi lấy hết can đảm bước tới, đẩy cửa nhà vệ sinh ra, bên trong không có ai. Chiếc gương vẫn bị khăn che kín, nguyên vẹn như cũ.
Nhưng tôi nghe rất rõ, âm thanh lúc nãy đúng là phát ra từ trong đó.
Đêm ấy tôi không ngủ nổi, bật đèn ngồi suốt một đêm.
Sáng hôm sau, tôi nói với mẹ là mình muốn đi, không về thành phố nữa mà ra khách sạn ở. Mẹ hỏi nhà cửa đang yên ổn, ở khách sạn làm gì. Tôi bảo chỉ là muốn ở thôi, mẹ đừng hỏi nữa.
Mẹ hết cách, đành để tôi ra khách sạn trên trấn.
Ở đó ba ngày, chuyện lạ biến mất. Đèn đường không nhấp nháy nữa, bảo vệ cũng không còn thấy người phụ nữ áo trắng, tôi cũng không còn mơ thấy ác mộng.
Tôi tưởng đã ổn nên quay về thành phố.
Ngày đầu tiên sau khi về, không có gì xảy ra. Ngày thứ hai cũng không. Đến tối ngày thứ ba, đèn đường lại bắt đầu nhấp nháy.
Vẫn là mười hai giờ đêm, vẫn là ba lần.
Tôi biết, bà ấy đã tìm tới rồi.
Tôi gọi điện cho mẹ, hỏi bà Hai đâu rồi, con muốn nói chuyện với bà. Mẹ nói bà Hai mất rồi, mất từ hôm kia.
Tôi sững sờ: “Mất rồi? Đi đâu rồi?”
Mẹ tôi nói bà mất rồi, ra đi rất thanh thản, sáng ra phát hiện thì người đã lạnh.
Đầu óc tôi ong lên một tiếng, vội hỏi: “Là khi nào vậy?”
Mẹ nói: “Ngay ngày thứ hai sau khi con đi.”
Tôi thầm tính lại, đúng vào ba ngày tôi ở khách sạn.
Tôi hỏi: “Trước khi mất, bà Hai có dặn gì không?”
Mẹ đáp: “Có, bà bảo con đừng soi gương ban đêm, đừng đi đường khuya, đừng ngoảnh đầu lại.”
Tôi hỏi: “Chỉ vậy thôi sao?”
Mẹ nói: “Chỉ vậy thôi, sao thế?”
Tôi đáp: “Không có gì, con chỉ hỏi vậy thôi.”
Cúp điện thoại, tôi ngồi phịch xuống sofa, nghĩ rất lâu.
Tại sao bà Hai lại mất ngay ngày thứ hai sau khi tôi rời đi? Có phải bà biết điều gì đó không? Câu dặn đừng soi gương đêm, đừng đi đường khuya, đừng ngoảnh đầu lại rốt cuộc có ý gì?
Tôi nghĩ mãi không ra, rồi cũng không muốn nghĩ nữa. Tôi quyết định chuyển nhà, đổi chỗ ở, đổi cả thành phố, đi thật xa quê cũ.
Tôi nhờ môi giới đăng bán căn nhà, rồi bắt đầu tìm chỗ mới. Tìm suốt nửa tháng, cuối cùng cũng tìm được một căn vừa ý ở quận khác, gần công ty, môi trường cũng tốt.
Hôm chuyển nhà, tôi mệt rã rời, dọn dẹp đến tận mười giờ đêm mới xong. Sau khi vệ sinh cá nhân xong, đang chuẩn bị đi ngủ thì tôi chợt nhớ tới lời bà Hai.
Đừng soi gương ban đêm.
Tôi nhìn chiếc gương trong nhà vệ sinh, nghĩ một lúc rồi vẫn lấy một chiếc khăn phủ lên.
Vừa phủ xong thì điện thoại reo, là mẹ gọi tới.
Mẹ nói: “Tiểu Mãn, di vật của bà Hai đã dọn xong rồi, có một món là của con.”
Tôi hỏi: “Là thứ gì vậy?”
Mẹ đáp: “Một chiếc gương, kiểu cũ, gương đồng, mặt sau khắc tên con.”
Tôi sững người: “Tên con sao?”
Mẹ nói: “Ừ, ba chữ Lâm Tiểu Mãn, khắc rất rõ.”
Tôi hỏi: “Sao bà Hai lại có gương của con?”
Mẹ đáp: “Mẹ không biết, bà ấy không nói.”
Tôi hỏi tiếp: “Thế chiếc gương đâu rồi?”
Mẹ bảo: “Để mẹ mang lên cho con nhé?”
Tôi nói: “Không cần, con sẽ về lấy.”
Ngày hôm sau, tôi về quê. Mẹ đưa chiếc gương cho tôi, cầm trên tay rất nặng, bằng đồng, mặt sau quả nhiên khắc tên tôi.
Tôi hỏi: “Trước khi mất bà Hai thật sự không nói gì nữa sao?”
Mẹ lắc đầu: “Không, chỉ nói chiếc gương này là của con, bảo con giữ cẩn thận.”
Tôi mang chiếc gương về thành phố, cất vào ngăn kéo, không dám dùng.
Đêm đó, tôi lại nằm mơ. Trong mơ vẫn là người phụ nữ áo trắng, tóc dài xõa vai, đứng bên giường tôi. Nhưng lần này khác, cô ta lên tiếng.
Cô ta hỏi: “Sao không lấy gương ra?”
Tôi hỏi: “Gương nào?”
Cô ta đáp: “Gương của tôi.”
Tôi nói: “Đó là gương của tôi.”
Cô ta lắc đầu: “Không, là của tôi.”
Tôi nói: “Bà Hai bảo đó là của tôi.”
Cô ta bật cười: “Bà Hai lừa cô thôi.”
Tôi hỏi: “Vậy chiếc gương đó là của ai?”
Cô ta đáp: “Của bà nội cô.”
Tôi hỏi: “Gương của bà nội tôi sao lại khắc tên tôi?”
Cô ta nói: “Vì nó được cho cô mượn.”
Tôi hỏi: “Mượn để làm gì?”
Cô ta đáp: “Mượn để soi mệnh.”
Tôi hỏi: “Soi mệnh là gì?”
Cô ta nói: “Mỗi lần cô soi gương, tuổi thọ sẽ giảm đi một năm. Cô đã soi suốt hai mươi tám năm, nên cô chỉ còn lại hai mươi tám năm nữa.”
Tôi nói: “Tôi không tin.”
Cô ta cười: “Không tin cũng được, nhưng cô thử đếm xem mình đã soi bao nhiêu lần.”
Tôi nói: “Tôi không đếm nổi.”
Cô ta nói: “Cô đếm được chứ. Mỗi tối một lần, hai mươi tám năm, mười nghìn hai trăm hai mươi lần.”
Tôi hỏi: “Thì sao?”
Cô ta ghé sát hơn: “Vậy cô thử tính xem, mình còn sống được bao lâu.”
Tôi giật mình tỉnh dậy, mồ hôi lạnh ướt đẫm người.
Tôi nhìn điện thoại, ba giờ sáng. Tôi ngồi dậy đi vào nhà vệ sinh, định rửa mặt cho tỉnh táo. Đến trước cửa, tôi khựng lại.
Chiếc gương vẫn đang bị khăn phủ kín.
Nhưng tôi nhìn rất rõ, dưới lớp khăn có bóng người hắt ra, như thể có ai đó đang đứng bên trong soi gương.
Tôi đứng chết lặng rất lâu, không dám bước tới.
Ngày hôm sau, tôi tìm một thầy pháp, kể lại chuyện chiếc gương cho ông ta nghe. Ông ta nói chiếc gương này không thể giữ lại, phải vứt đi.
Tôi hỏi: “Vứt ở đâu?”
Ông ta đáp: “Ném xuống sông, càng sâu càng tốt.”
Tôi làm theo, mang chiếc gương ném xuống con sông ngoài thành phố.
Đêm đó, tôi không còn mơ nữa.
Tôi tưởng mọi chuyện đã kết thúc, nhưng đến sáng ngày thứ ba, lúc thức dậy rửa mặt, tôi theo phản xạ nhìn về phía gương.
Chiếc gương vẫn bị khăn che kín.
Nhưng trên mặt khăn, tôi thấy có một dấu tay hằn lên từ phía bên trong.
Tôi giật khăn xuống, trong gương hiện ra gương mặt tôi, nhưng không phải gương mặt hiện tại, mà là khuôn mặt của tôi sau ba mươi năm nữa.
Tóc bạc trắng, nếp nhăn đầy mặt, hai mắt hõm sâu.
Tôi hoảng hốt lùi lại một bước, nhìn lại lần nữa thì trong gương đã trở về gương mặt hiện tại của tôi.
Tôi nghĩ chắc mình nhìn nhầm nên không dám nghĩ nhiều.
Nhưng từ đó về sau, mỗi lần soi gương, tôi lại thấy một phiên bản khác của chính mình. Có khi là tôi già nua, có khi là tôi lúc nhỏ, có khi là tôi bệnh tật, có khi lại là tôi đã chết.
Tôi đến bệnh viện kiểm tra, bác sĩ nói tôi không có vấn đề gì, chỉ là áp lực tâm lý quá lớn.
Tôi tìm gặp bác sĩ tâm lý, ông ấy nói tôi đang bị ảo giác, cần phải điều trị.
Tôi không đi điều trị, vì tôi biết không chữa được.
Chiếc gương đó… vốn dĩ chưa từng bị ném xuống sông.
Nó vẫn luôn ở trong nhà tôi, ở một nơi nào đó mà tôi không biết, chờ tôi soi vào nó.
Đêm qua, tôi lại nằm mơ. Vẫn là người phụ nữ áo trắng, tóc dài xõa vai ấy. Nhưng lần này, cô ta không đứng bên giường nữa, mà đứng ở trong gương.
Cô ta nói: “Cô không thoát được đâu.”
Tôi hỏi: “Rốt cuộc cô muốn gì?”
Cô ta đáp: “Tôi muốn lấy lại mạng của mình.”
Tôi hỏi: “Chuyện đó liên quan gì đến tôi?”
Cô ta nhìn tôi chằm chằm: “Mạng sống của cô là do tôi đổi lấy.”
Tôi hỏi: “Ý cô là sao?”
Cô ta nói: “Lúc cô sinh ra, mẹ cô khó sinh, không thể sinh được. Bà nội cô đã cầu xin tôi, dùng mạng của bà ấy đổi lấy mạng cho cô. Tôi đồng ý, nên cô sống được, còn bà nội cô thì ra đi.”
Tôi lắc đầu: “Tôi không tin.”
Cô ta nói: “Không tin cũng được, cô cứ hỏi mẹ mình đi.”
Tôi nói: “Tôi hỏi rồi, mẹ tôi bảo không có chuyện đó.”
Cô ta cười lạnh: “Bà ấy lừa cô, bà ấy không dám nói cho cô biết.”
Tôi hỏi: “Vậy bây giờ cô còn muốn gì nữa?”
Cô ta nói: “Tôi muốn lấy lại mạng của mình, nhưng cô đã dùng nó hai mươi tám năm rồi, không lấy lại được nữa. Vậy nên tôi chỉ có thể mượn mạng của cô để tiếp tục sống.”
Tôi hỏi: “Mượn thế nào?”
Cô ta đáp: “Mỗi lần cô soi gương, tôi mượn một năm. Cô soi một vạn lần, tôi sẽ mượn một vạn năm.”
Tôi hỏi: “Vậy tôi sẽ chết sao?”
Cô ta cười: “Con người ai rồi cũng phải chết, chỉ là sớm hay muộn thôi.”
Tôi nói: “Tôi sẽ không soi nữa.”
Cô ta chậm rãi đáp: “Cô không soi, thì người bên cạnh cô sẽ soi. Mẹ cô, bạn cô, đồng nghiệp của cô… sớm muộn gì cũng sẽ có người soi.”
Tôi siết chặt tay: “Đừng ép tôi.”
Cô ta nói: “Không phải tôi ép cô, mà là bà nội cô ép. Năm đó lúc bà ấy cầu xin tôi, đã nói rõ rồi: dùng mạng đổi mạng. Mạng của bà ấy dùng hết, thì đến lượt mạng của cô.”
Tôi nghẹn lại: “Như vậy không công bằng.”
Cô ta cười nhạt: “Trên đời này làm gì có công bằng.”
Tôi giật mình tỉnh dậy, trời đã sáng.
Tôi bước vào nhà vệ sinh, đứng trước gương rất lâu.
Trong gương, sắc mặt tôi trắng bệch, mắt sưng đỏ, trông như đã rất lâu không ngủ.
Tôi đưa tay chạm lên mặt gương, lạnh buốt như băng.
Đột nhiên tôi nhớ tới lời bà Hai.
Đừng soi gương ban đêm, đừng đi đường khuya, đừng ngoảnh đầu lại.
Giờ đây tôi đã hiểu rồi.
Đừng soi gương ban đêm, vì chiếc gương trong đêm không soi người, mà soi quỷ.
Đừng đi đường khuya, vì con đường trong đêm không chỉ có người đi, mà còn có quỷ đi cùng.
Đừng ngoảnh đầu lại, vì khi bạn quay đầu, con quỷ ấy đang đứng ngay sau lưng.
Nhưng đã quá muộn.
Tôi đã soi gương suốt hai mươi tám năm, đã đi đường đêm suốt hai mươi tám năm, đã ngoảnh đầu lại suốt hai mươi tám năm.
Cô ta đã ở phía sau tôi từ lâu rồi.
Tôi buông chiếc khăn xuống, nhìn chính mình trong gương rồi bật cười.
Tôi nói: “Đến đi, tôi đợi cô lâu rồi.”
Người trong gương cũng cười, nhưng nụ cười ấy không giống biểu cảm của tôi.
Cô ta cười trước tôi nửa giây.
Sau đó, tôi chuyển nhà, đổi việc, đổi số điện thoại, cắt đứt liên lạc với tất cả mọi người.
Tôi không còn soi gương nữa, không đi đường khuya nữa, cũng không ngoảnh đầu lại nữa.
Nhưng tôi biết, cô ta vẫn còn đó.
Cô ta ở trong nhà tôi, ở một nơi nào đó mà tôi không biết, chờ tôi soi vào cô ta.
Có những đêm khuya, tôi nghe thấy trong nhà vệ sinh có tiếng động.
Giống như tiếng ai đó đang soi gương, chải tóc.
Tôi không nhìn, không nghe, coi như chưa từng nghe thấy.
Nhưng tôi biết, sẽ có một ngày tôi không nhịn được nữa.
Ngày đó, sẽ là ngày chết của tôi.
Có người hỏi tôi: “Cô tin ma quỷ sao?”
Tôi nói: “Tôi tin.”
Không phải tin kiểu ma quỷ hù dọa người ta, mà là tin rằng có những thứ, chết rồi cũng không tan biến được.
Ví dụ như chấp niệm, như nỗi vương vấn, như những lời chưa kịp nói, những người chưa kịp gặp, những việc chưa kịp làm xong.
Khi còn sống thì không thấy gì, nhưng đến lúc chết mới biết, hóa ra chúng nặng đến thế.
Nặng đến mức có thể đè chết một con người.
Nặng đến mức có thể mượn đi một mạng sống.
Nặng đến mức khiến một người soi gương cả đời, mà mãi mãi không còn nhìn thấy chính mình.
Cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa tìm thấy chiếc gương ấy.
Nhưng tôi biết, nó ở trong nhà tôi, ở một nơi nào đó, đang chờ tôi.
Chờ tôi soi vào nó, chờ tôi cho mượn mạng, chờ tôi chết.
Tôi không sợ.
Tôi chỉ muốn biết, khi tôi chết đi, trong gương sẽ hiện ra gương mặt của ai.
Là của tôi, hay là của cô ta.
Hoặc có lẽ… vốn dĩ không phải là gương mặt của con người.
